USD liên tục tăng kịch trần, giá chợ đen tăng vọt
Tuần này, giá USD trên thị trường tự do đã vượt 27.200 đồng/USD trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng liên tục tăng kịch trần.
Cũng trong đầu tuần này, chỉ số USD Index trên thế giới phục hồi mạnh, đứng ở mức cao nhất 3 tháng (vượt 99 điểm). Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố xung đột tại Iran sẽ sớm kết thúc, giá USD và dầu quay đầu giảm nhẹ. Dù vậy, các nhà phân tích cho rằng, thị trường chỉ “tạm nghỉ” bởi xung đột tại Iran chưa thể sớm kết thúc. Một khi chiến sự chưa chấm dứt, USD và trái phiếu Kho bạc Mỹ vẫn đang hưởng lợi ngắn hạn.
Theo ông Michael Kokalari, CFA, Giám đốc Phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường (VinaCapital), khi nhu cầu đối với các tài sản trú ẩn tăng, đồng USD thường mạnh lên và có thể gây áp lực mất giá nhất định lên VND. Kết hợp với lạm phát cao hơn, xu hướng này có thể khiến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam tăng trở lại. VinaCapital dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng có thể tăng thêm khoảng 50-100 điểm cơ bản trong năm nay.
Tại buổi họp báo Chính phủ mới đây, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, leo thang căng thẳng, xung đột quân sự ở khu vực Trung Đông khiến nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, trong đó có Mỹ, thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất. Một số tổ chức thậm chí phát tín hiệu tăng lãi suất sớm trong tháng này để ứng phó với lạm phát.
“Những biến động này đã tạo sức ép lên tỷ giá, thị trường tiền tệ trong nước”, ông Hà nói.
Theo các chuyên gia phân tích, xung đột đang diễn ra tại Trung Đông chưa thể sớm chấm dứt như tuyên bố của Tổng thống Trump. Theo đó, chi phí năng lượng và logistics tăng cao có nguy cơ khiến lạm phát toàn cầu gia tăng, buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và một số ngân hàng trung ương phải chậm lại lộ trình nới lỏng tiền tệ, duy trì lãi suất ở mức cao để kiềm chế lạm phát. Hệ quả tất yếu là USD tăng giá trở lại và tỷ giá tại Việt Nam có thể tăng cao.
Trong bối cảnh đó, bà Nguyễn Thị Kiều Hạnh, Trưởng nhóm phân tích VIS Rating cho rằng, các doanh nghiệp vay nợ nhiều bằng USD hoặc sử dụng nhiều USD trong thanh toán các chi phí hoạt động sẽ chịu tác động tiêu cực. Bởi tỷ giá tăng sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp Việt Nam có dư nợ bằng USD.
Các doanh nghiệp chịu tác động lớn nhất thuộc nhóm ngành sản xuất điện và cung cấp nước sạch (bao gồm Tổng công ty Phát điện 3, CTCP Tập đoàn PC1, CTCP Nước - Môi trường Bình Dương, CTCP BCG Energy)... cũng như các hãng vận tải hàng không (như Vietnam Airlines, Vietjet), do các doanh nghiệp này vừa có tỷ trọng đáng kể nợ vay bằng USD vừa có nhiều chi phí hoạt động bằng USD (chi phí nhiên liệu, thuê máy bay và bảo dưỡng).
Biến động tỷ giá kéo dài sẽ làm suy yếu khả năng trả nợ và hồ sơ tín nhiệm của các doanh nghiệp này, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có mức độ phòng ngừa rủi ro hạn chế. Nếu hồ sơ tín nhiệm xấu đi, doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi vay cao hơn.
Ngoài ra, rủi ro lạm phát và tỷ giá tăng cũng có thể khiến chính sách tiền tệ trong nước thắt chặt hơn, lãi suất gia tăng, đồng nghĩa với thanh khoản sẽ bị thu hẹp. Điều này sẽ làm tăng chi phí vốn và rủi ro tái cấp vốn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp bất động sản và hạ tầng có tỷ lệ sử dụng đòn bẩy cao, khả năng chi trả lãi vay hạn chế và áp lực đáo hạn nợ lớn trong ngắn hạn.
Chính sách tiền tệ khó đảo chiều
Trong vòng một tháng qua (từ 10/2 đến 10/3/2026), giá USD bán ra tại Vietcombank đã tăng 255 đồng, tức tăng gần 1%. Mặc dù vậy, tỷ giá thời điểm hiện tại vẫn thấp hơn so với đầu năm.
NHNN cho biết, từ đầu năm đến nay, nguồn cung ngoại tệ dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế. Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp chặt với chính sách tài khóa, ưu tiên ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Phó thống đốc khẳng định cơ quan quản lý sẽ điều hành phù hợp với diễn biến thị trường, yêu cầu các tổ chức tín dụng công khai lãi suất cho vay. Nhà điều hành sẽ sử dụng đồng bộ các công cụ để ổn định tỷ giá và đảm bảo thị trường hoạt động thông suốt.
Nhiều chuyên gia cho rằng, sự phục hồi của USD Index hiện nay chỉ là tạm thời, do hưởng lợi ngắn hạn từ căng thẳng địa chính trị. Trong trung hạn, USD vẫn có khả năng suy giảm.
Thứ nhất, so với các giai đoạn trong quá khứ và so với các quốc gia khác, USD vẫn đang được định giá cao.
Thứ hai, lợi thế “kép” dành cho nhà đầu tư nước ngoài (cổ phiếu Mỹ tăng mạnh + đồng USD mạnh) đang dần suy giảm, trong bối cảnh châu Âu và Nhật Bản ngày càng trở thành những thị trường đầu tư thay thế đáng chú ý.
Ngoài ra, đồng USD yếu cũng phù hợp hơn với định hướng chính sách của chính quyền Mỹ hiện nay, vốn khuyến khích các doanh nghiệp đưa hoạt động sản xuất trở lại trong nước.
Trước mắt, không thể phủ nhận việc USD mạnh lên đang gây áp lực cho tỷ giá, nhất là trong bối cảnh cầu ngoại tệ trả nợ trong nước vẫn rất lớn.
Dù vậy, chuyên gia phân tích VCBS lạc quan cho rằng, trong bối cảnh địa chính trị biến động, Việt Nam vẫn có thể xoay chuyển thách thức thành cơ hội.
“Nếu duy trì được ổn định vĩ mô, Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là điểm đến an toàn cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có xu hướng rời xa các khu vực rủi ro. Ngoài ra, với các FTA sâu rộng, chúng ta có lợi thế trong việc trở thành một mắt xích thiết yếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều kiện tiên quyết là kiểm soát tốt lạm phát chi phí đẩy và điều hành tỷ giá linh hoạt. Sự kết hợp giữa ổn định chính trị và chính sách tài khóa sẽ giúp Việt Nam trở thành một điểm sáng tăng trưởng hiếm hoi trong bức tranh kinh tế toàn cầu đầy xám xịt”, chuyên gia phân tích VCBS nhấn mạnh.
Mặc dù vậy, nhóm phân tích cũng cảnh báo, nếu tình hình địa chính trị xấu đi, khả năng tác động tới chính sách tiền tệ theo hướng tạm ngừng nới lỏng, tạo ra áp lực về tỷ giá tiềm tàng đối với Việt Nam. Trong kịch bản xấu, mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó có thể giảm, ảnh hưởng tới chi phí vốn của các ngân hàng nội địa.
Từ đầu năm đến nay, lãi suất huy động và cho vay vẫn tiếp tục nhích lên trong bối cảnh Chính phủ quyết liệt thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Các chuyên gia cho rằng, nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng sẽ khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong năm nay.
Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ huy động/cho vay (LDR) vẫn đứng ở mức 110%. Các chuyên gia cho rằng, năm 2026, tỷ lệ LDR của hệ thống vẫn chịu áp lực bởi nhiều yếu tố: sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn vốn từ Kho bạc Nhà nước và NHNN; một phần dòng tiền có dấu hiệu dịch chuyển khỏi hệ thống ngân hàng (mặc dù khó để định lượng), từ đó làm giảm huy động tiền gửi toàn ngành; áp lực cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác (vàng…) khiến tốc độ huy động vốn của ngành không theo kịp đà tăng tín dụng.
Tóm lại, thanh khoản vẫn là câu chuyện mang tính hệ thống trong năm 2026, khiến lãi suất khó có thể giảm ngay.
Việc lãi suất và tỷ giá đều đứng trước áp lực tăng buộc doanh nghiệp phải đặt ra bài toán sử dụng các công cụ phòng vệ tỷ giá, cơ cấu lại nguồn vốn, giảm tỷ lệ đòn bẩy cũng như tính toán quỹ dự phòng để phòng ngừa các cú sốc có thể xảy ra.
Điều quan trọng lúc này là bảo toàn dòng tiền
- Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi)
Nếu xung đột kéo dài, dòng vốn quốc tế có xu hướng tìm đến tài sản an toàn khiến USD mạnh lên trong ngắn hạn. Điều này tạo áp lực nhất định lên tỷ giá ở các thị trường mới nổi. Để đối phó với tình trạng này, các doanh nghiệp cần theo dõi sát tỷ giá, sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá khi cần thiết; đa dạng hóa thị trường và nguồn cung để giảm phụ thuộc.
Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn cũng cần rà soát lại cấu trúc nợ, đặc biệt là nợ ngoại tệ, và duy trì dự phòng thanh khoản đủ mạnh. Lịch sử cho thấy, những doanh nghiệp lớn có hệ thống quản trị rủi ro bài bản thường không chỉ vượt qua khủng hoảng mà còn gia tăng thị phần sau biến động.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc giữ dòng tiền là ưu tiên. Trong bối cảnh hiện nay, điều quan trọng không phải là mở rộng nhanh mà là bảo toàn dòng tiền; tránh sử dụng đòn bẩy cao; duy trì quỹ dự phòng tối thiểu 3-6 tháng chi phí vận hành.
Hà Tâm