TP.Hồ Chí Minh cần cơ chế đủ mạnh cho Khu thương mại tự do và Khu logistics tích hợp

Việc sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách cho Khu thương mại tự do và Khu logistics tích hợp được kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực logistics, thu hút đầu tư và đưa TP.Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại, logistics của khu vực.
quang-canh-1788847803.jpg

 

Chiều 7/9/2026, Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị tham vấn ý kiến về dự thảo Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định về Khu thương mại tự do (FTZ) và Khu logistics tích hợp (ILZ) trên địa bàn. Hội nghị có sự tham dự của hơn 50 đại biểu là đại diện các sở, ngành, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics, cảng biển, thương mại điện tử, sản xuất, xuất nhập khẩu.

Đây được xem là bước tham vấn quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý để TP.HCM triển khai hai mô hình kinh tế mới trong bối cảnh cạnh tranh về thương mại, logistics và thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt.

Theo định hướng của dự thảo, FTZ và ILZ được kỳ vọng không chỉ tạo thêm không gian phát triển cho hoạt động thương mại và logistics mà còn hình thành những cực tăng trưởng mới, thu hút dòng vốn đầu tư chiến lược, phát triển sản xuất - xuất khẩu và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao.

Theo báo cáo của Sở Công Thương, Luật Phát triển đô thị được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/8/2026 đã quy định trực tiếp về phát triển Khu thương mại tự do và Khu logistics tích hợp tại Điều 21. Luật đồng thời giao HĐND TP.HCM quy định về trình tự, thủ tục thành lập, điều chỉnh ranh giới, diện tích; cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động, ưu đãi đầu tư, tạo thuận lợi thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh và các chính sách đặc thù khác đối với hai mô hình này.

Để nắm bắt cơ hội khi Luật Phát triển đô thị có hiệu lực (1/10/2026), ông Bùi Tá Hoàng Vũ – Giám đốc Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh cho biết: Nếu chậm trễ trong việc xây dựng, hoàn thiện và ban hành Nghị quyết, Thành phố sẽ bỏ lỡ cơ hội để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương và quốc gia trong khu vực đang cạnh tranh gay gắt để hình thành các khu thương mại tự do, khu logistics trọng điểm.”

Cần một cơ chế đủ sức cạnh tranh

Dự thảo Nghị quyết gồm 5 chương, 15 điều, tập trung vào các nhóm nội dung lớn như điều kiện, trình tự thành lập và điều chỉnh ranh giới FTZ, ILZ; mô hình quản lý nhà nước; chính sách đầu tư, đất đai, thuế, hải quan, nhân lực và các quy định chuyển tiếp.

Theo dự thảo, FTZ được xác định là khu chức năng có ranh giới địa lý xác định, gắn liền hoặc kết nối trực tiếp với các cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế, trung tâm tài chính quốc tế, cửa khẩu quốc tế quan trọng hoặc hạ tầng logistics chiến lược khác. Mô hình này hướng tới áp dụng các cơ chế vượt trội về đầu tư, tài chính, thương mại, dịch vụ chất lượng cao, logistics, sản xuất, xuất khẩu, nghiên cứu và phát triển.

Trong khi đó, ILZ được thiết kế theo mô hình hệ sinh thái, gắn với các đầu mối giao thông đa phương thức, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại, kết hợp dịch vụ logistics với sản xuất, gia công hàng hóa, thương mại số và thương mại điện tử. ILZ có thể là khu độc lập hoặc thuộc FTZ.

1-ts-1788847819.jpg
TS. Đinh Công Khải - Phó Giám đốc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại hội nghị. ẢNh Nhật Quỳnh 

Tại hội nghị, TS. Đinh Công Khải - Phó Giám đốc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) nêu ý kiến: Cần Xây dựng nền tảng dữ liệu logistics dùng chung, cần coi hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số là một cấu phần thiết yếu của Khu logistics tích hợp. Đồng thời, đề xuất đưa nguồn nhân lực, nghiên cứu - đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ thành một cấu phần cần thiết của hệ sinh thái Khu logistics tích hợp.

Theo kinh nghiệm quốc tế của Khu thương mại tự do Thượng Hải, Khu thương mại tự do Jebel Ali - Dubai, Khu kinh tế tự do Incheon…, điều kiện tiên quyết để bảo đảm hiệu quả vận hành khu thương mại tự do/logistics tích hợp là khả năng kết nối đa phương thức (cảng biển - đường bộ - đường sắt - hàng không), chứ không chỉ là sự phù hợp quy hoạch chung. Đồng thời, giá trị của khu logistics tích hợp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tích hợp và khả năng tạo ra mạng lưới. Do đó, nếu chỉ đánh giá dựa trên diện tích, vốn đầu tư và tỷ lệ lấp đầy thì có thể dẫn tới tình trạng hình thành khu logistics có hạ tầng nhưng chưa hình thành được hệ sinh thái logistics có năng lực cạnh tranh quốc tế, TS.Khải nhận định.

Ông cũng chỉ ra rằng trong dự thảo hiện tập trung ưu đãi cho nhà đầu tư hạ tầng và các ngành công nghệ cao, chưa có chính sách khuyến khích doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ trong nước tham gia chuỗi cung ứng trong FTZ và ILZ (ví dụ ưu đãi thuê kho bãi, tiếp cận hạ tầng dùng chung); cũng chưa có cơ chế hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực logistics chuyên sâu ngoài chính sách chung thu hút chuyên gia nước ngoài. Do đó cần bổ sung cơ chế khuyến khích doanh nghiệp logistics trong nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng trong Khu thương mại tự do và Khu logistics tích hợp và cơ chế hỗ trợ liên kết đào tạo nguồn nhân lực logistics với các cơ sở giáo dục đại học, dạy nghề trên địa bàn.

1-kt-1788847894.jpg
Ông Lương Quang Thi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM nêu ý kiến tại hội nghị. Ảnh Nhật Quỳnh  

Ông Lương Quang Thi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP.HCM lưu ý cần xem xét kỹ phạm vi áp dụng các chính sách ưu đãi. Nếu doanh nghiệp nằm trong khu được hưởng ưu đãi cao, trong khi doanh nghiệp bên ngoài không được hưởng, chính sách cần được thiết kế phù hợp để vừa tạo động lực thu hút đầu tư vào FTZ, vừa tránh tạo ra sự chênh lệch quá lớn làm méo mó cạnh tranh.

Một trong những đề xuất đáng chú ý là cần xác định rõ “sản phẩm mồi” của FTZ, tức những ngành, lĩnh vực hoặc hoạt động có khả năng tạo sức hút ban đầu, kéo theo các doanh nghiệp và dịch vụ khác tham gia hệ sinh thái.

Logistics không chỉ là kho và cảng

Các ý kiến tại hội nghị cũng tập trung vào bài toán hạ tầng logistics và khả năng kết nối toàn bộ chuỗi cung ứng.

Đại diện doanh nghiệp logistics cho rằng điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở kho bãi mà còn ở sự thiếu đồng bộ giữa hạ tầng cứng, hạ tầng kết nối, hệ thống cảng, đường bộ, đường thủy nội địa và các trung tâm logistics. Vì vậy, khi xây dựng ILZ, TP.Hồ Chí Minh cần nhìn logistics theo chuỗi giá trị thay vì chỉ tập trung vào kho hoặc cảng.

Các đại biểu đề xuất nghiên cứu kết nối Khu logistics tích hợp với hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải, các bến thủy nội địa và mạng lưới giao thông nội đô; đồng thời xây dựng lộ trình kết nối giao thông và kiểm soát chi phí vận chuyển giữa các cảng.

Đây được xem là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sức cạnh tranh của ILZ, bởi nếu chi phí vận chuyển và thời gian lưu chuyển hàng hóa không được cải thiện, các ưu đãi về thuế và thủ tục hành chính khó đủ sức tạo lợi thế dài hạn.

Ông Nguyễn Xuân Kỳ - Tổng thư ký Hiệp Hội Cảng biển Việt Nam nêu quan điểm TP. Hồ Chí Minh cần tăng cường kết nối với các phương thức vận tải đa phương thức, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình quốc tế như Dubai, Incheon của Hàn Quốc, Thượng Hải và Thanh Đảo của Trung Quốc.

Qua kinh nghiệm khảo sát tại Thanh Đảo, đại diện Hiệp hội Hiệp Hội Cảng biển Việt Nam cho rằng mô hình cảng mở và tổ chức luân chuyển hàng hóa đòi hỏi sự thay đổi mạnh trong phương thức quản lý hải quan. Việc hàng hóa di chuyển giữa các bến cảng, kho và các khu chức năng phải được tổ chức thông suốt, nếu không sẽ làm phát sinh thêm thời gian và chi phí.

thang-1788847999.jpg
Ông Dương Minh Thắng – Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Kho vận Viettel Post – TTC nêu tham luận tại hội nghị  ↵

Ông Dương Minh Thắng – Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Kho vận Viettel Post – TTC cho rằng hiện nay: logistics chiếm 15%, thậm chí một số đơn vị đang chịu ở mức 20 đến 25% do chúng ta đang thiếu đi sự đồng bộ, nếu không tận dụng được hạ tầng mạng lưới, phân mảnh sẽ tốn kém rất nhiều chi phí.

Do đó ông đề xuất: TP.HCM cần chuyển từ mô hình logistics phân tán sang mạng lưới logistics đa cực, hiện đại và tích hợp, trong đó kho bãi không chỉ là nơi lưu trữ mà trở thành hạ tầng xử lý dòng hàng; phát triển Fulfillment và City Logistics gắn với kinh tế số. Khu logistics tích hợp cần đồng bộ hạ tầng vật lý và hạ tầng số, đồng thời mở rộng các mô hình đầu tư, khai thác. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hạ tầng kết nối và điều phối, doanh nghiệp đảm nhiệm vốn, công nghệ và vận hành. Đặc biệt, TP.HCM có thể tiên phong xây dựng nền tảng bản đồ số và sàn giao dịch kho vận, kết nối cung – cầu logistics theo thời gian thực, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch.

Cần cơ chế “một cửa” và quản trị chuyên trách

Dự thảo hiện xác định UBND Thành phố quyết định giao nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cho các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc UBND Thành phố. FTZ được quản lý theo quy định áp dụng đối với khu kinh tế; ILZ thuộc FTZ được quản lý theo cơ chế của FTZ, trong khi ILZ độc lập áp dụng cơ chế quản lý tương ứng với khu công nghiệp.

Tuy nhiên, tại hội nghị, các đại biểu đặt vấn đề liệu TP.HCM nên hình thành một ban quản lý chuyên trách cho FTZ, ILZ hay sử dụng mô hình quản lý chung? đồng thời cần thiết kế cơ chế phối hợp giữa hải quan, thuế, xuất nhập cảnh, ngân hàng, đất đai, môi trường và các cơ quan chuyên ngành.

Một số ý kiến đề nghị tăng cường cơ chế “một cửa”, rút ngắn thủ tục thương mại, đầu tư và logistics. Đồng thời, cần xây dựng một cơ chế phối hợp tổng thể để doanh nghiệp không phải thực hiện nhiều thủ tục ở nhiều cơ quan khác nhau.

Đại diện Hiệp hội Sàn thương mại điện tử Việt Nam cũng cho rằng dự thảo cần làm rõ hơn mục tiêu thành lập FTZ, nhất là trong việc thu hút doanh nghiệp, phát triển thương mại số và tạo ra các giá trị mới. Theo hướng này, FTZ không nên chỉ được nhìn nhận là nơi tập trung kho bãi, cảng và hoạt động xuất nhập khẩu mà cần đa dạng hóa các chức năng, trong đó có thương mại điện tử, dịch vụ số, sản xuất và các hoạt động giá trị gia tăng. 

Đại biểu này cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế sandbox để thử nghiệm những mô hình, dịch vụ và phương thức kinh doanh mới trong FTZ, qua đó tạo không gian đổi mới trước khi nhân rộng.

Dự thảo Nghị quyết đang đề xuất nhiều cơ chế đáng chú ý cho FTZ và ILZ, trong đó có thủ tục đầu tư đặc biệt, cơ chế đất đai, hải quan, thuế, ngoại hối, hỗ trợ lãi suất và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao. Với một số nhóm ngành trọng điểm, dự thảo đề xuất mức thuế TNDN 10% trong 20 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Đối với ILZ, dự thảo đề xuất cơ chế hỗ trợ lãi suất vay vốn từ ngân sách Thành phố tối đa 7 năm đối với các dự án đầu tư thứ cấp, đồng thời cho phép xem xét chuyển đổi một số khu công nghiệp, trung tâm logistics đã có trong quy hoạch nhưng chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư thành ILZ khi có nhà đầu tư đáp ứng điều kiện.

Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng ưu đãi chỉ là một phần của bài toán. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh, thủ tục nhanh, hạ tầng đồng bộ và hệ sinh thái dịch vụ đủ mạnh.

Theo dự thảo, ILZ độc lập được định hướng sử dụng quỹ đất hỗn hợp gồm đất thương mại, dịch Khu thương mại tự do (FTZ) gắn với cảng biển khu vực Cái Mép Hạ (quy mô 4.165,4 ha) nằm tại vị trí chiến lược phường Tân Phước và Tân Hải, được bao quanh bởi ranh giới tự nhiên sông rạch, đường 991B và vịnh Gành Rái.

Đây được định vị là hạt nhân của Hành lang kinh tế phía Đông, kết hợp thế mạnh Tài chính (TP.HCM) – Công nghiệp (Bình Dương) – Cảng biển và Logistics (Bà Rịa – Vũng Tàu).Sự liên kt chặt chẽ giữa cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (mớn nước -15,5 m đến -18,5 m, đón siêu tàu 250.000 DWT), siêu dự án Cảng trung chuyển quốc  tế Cần Giờ (cách 2 km, tổng vốn gần 5 tỷ USD) và Sân bay quốc tế Long Thành (cách 40 km, công suất 1,2 triệu tấn hàng/năm) kiến tạo nên tổ hợp logistics xanh toàn cầu, dự kiến đóng góp từ 20–30% GRDP địa phương.