Liên minh HTX Lâm Đồng: Tổ chức lại sản xuất chuỗi, xây dựng thương hiệu nông sản địa phương

Mô hình liên kết giữa hộ nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp được xem là hướng quan trọng để chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nâng cao chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và sức cạnh tranh.
5d173daf9eee1eb047ff-1788491547.jpg
Hội thảo “Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững gắn với tiêu thụ sản phẩm tỉnh Lâm Đồng năm 2026”, đã thu hút hơn 100 hội viên và doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Hơn 1.500 hợp tác xã, thu hút 160.000 thành viên

Hội thảo “Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững gắn với tiêu thụ sản phẩm tỉnh Lâm Đồng năm 2026”, do Liên minh HTX tỉnh Lâm Đồng, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng, Hiệp hội rau củ quả Việt Nam và CLB Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới, phối hợp tổ chức vào sáng 04/9/2026 tại Lâm Đồng, đã thu hút hơn 100 hội viên và doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Phát biểu tại hội thảo, ông Phan Đình Khiêm, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Lâm Đồng, cho biết tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập có lợi thế lớn về nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là rau, hoa, cà phê, chè, cây ăn quả, chăn nuôi và các sản phẩm OCOP.

Sau khi hợp nhất địa giới, không gian phát triển kinh tế của tỉnh Lâm Đồng được mở rộng, hình thành vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn, đa dạng từ cây công nghiệp, rau hoa, cây ăn quả, chăn nuôi đến thủy sản.

Đồng thời có điều kiện thuận lợi hơn để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ và mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu.

Trong đó, mô hình liên kết giữa hộ nông dân – hợp tác xã (HTX) – doanh nghiệp (DN) được xem là hướng quan trọng để chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đồng thời nâng cao chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và sức cạnh tranh.

efe24490e7d1678f3ec0-1788491619.jpg
Ông Phan Đình Khiêm, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Lâm Đồng, doanh thu bình quân HTX khoảng 2,5 tỷ đồng/HTX/năm.

Ở quy mô toàn tỉnh, khu vực kinh tế tập thể hiện có hơn 4.000 tổ hợp tác và hơn 1.500 HTX, thu hút khoảng 160.000 thành viên; đây là lực lượng quan trọng trong tổ chức sản xuất, kết nối nông dân với doanh nghiệp và thị trường.

Theo số liệu báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, riêng lĩnh vực nông nghiệp toàn tỉnh có 1.290 tổ hợp tác, 959 HTX nông nghiệp (gồm 739 HTX trồng trọt, 23 HTX chăn nuôi, 12 HTX khai thác thủy sản, 08 HTX nuôi trồng thủy sản, 09 HTX môi trường, 01 HTX nước sạch và 167 HTX tổng hợp) và 08 liên hiệp HTX nông nghiệp với 45 HTX thành viên.

Doanh thu bình quân HTX khoảng 2,5 tỷ đồng/HTX/năm, thu nhập bình quân của lao động thường xuyên khoảng 75–78 triệu đồng/người/năm.

Liên kết trong trồng trọt đạt 85.000 ha, 1.200 mã số vùng trồng, trên 300 mã số cơ sở

Sau sáp nhập, toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 428 chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản đang hoạt động, trong đó có 192 hợp tác xã tham gia với vai trò chủ trì hoặc đầu mối tổ chức liên kết; thu hút 47.590 hộ nông dân tham gia.

d7aad58476c5f69bafd4-1788491728.jpg
Các sản phẩm của HTX Vườn Nhà Đà Lạt.

Tổng diện tích liên kết trong lĩnh vực trồng trọt đạt khoảng 85.000 ha, với sản lượng khoảng 920.000 tấn/năm; lĩnh vực chăn nuôi đạt quy mô khoảng 2,23 triệu con, sản lượng khoảng 210.000 tấn/năm.

Tỉnh hiện có hơn 1.200 mã số vùng trồng và trên 300 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, tạo nền tảng quan trọng cho việc tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng nông sản quốc tế.

HTX là đầu mối tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và tập hợp nông dân; nông dân là chủ thể trực tiếp sản xuất. Đây cũng là hướng được tỉnh xác định trong kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp: hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất – bảo quản – chế biến – tiêu thụ, lấy doanh nghiệp làm nòng cốt, kinh tế tập thể và HTX làm trung tâm, nông dân là chủ thể.

Ngành hàng rau quả đã và đang góp phần quan trọng nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho Việt Nam

Theo ông Nguyễn Mười, Phó Tổng thư ký Hiệp hội rau củ quả Việt Nam, Chủ tịch CLB Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới (COTAB), trong những năm gần đây diện tích trồng cây ăn quả không ngừng tăng lên, thị trường tiêu thụ cũng được mở rộng, ngành hàng rau quả ở Việt Nam đã và đang góp phần quan trọng nâng cao kim ngạch xuất khẩu và mang lại thu nhập cao cho người nông dân.

Sản xuất cây ăn quả liên tục tăng trưởng về diện tích, sản lượng, đến năm 2025, tổng diện tích ước đạt hơn 1,3 triệu ha (tăng hơn 63% so năm 2014). Tổng sản lượng khoảng 16 triệu tấn.

Cả nước hiện có khoảng 50 loại cây ăn quả, gồm các loại quả ôn, á nhiệt đới và nhiệt đới. Đặc biệt là nhóm các loại quả nhiệt đới có lợi thế xuất khẩu.

Tính riêng 10 loại quả chủ lực, có diện tích lớn nhất, hiện chiếm khoảng 75% tổng diện tích cây ăn quả, các cây ăn quả khác chiếm khoảng 25%. Top đầu các nước sản xuất, xuất khẩu một số cây như: thanh long, vải, sầu riêng.

muoi-1788531379.jpg
Ông Nguyễn Mười, Phó Tổng thư ký Hiệp hội rau củ quả Việt Nam, Chủ tịch CLB Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới (COTAB).

So khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 2 về sản lượng cam và các loại quả (xoài, ổi, măng cụt), thứ 3 về sản lượng chuối, thứ 4 về sản lượng dứa.

Về chủng loại cây ăn quả, Việt Nam có nhiều chủng loại cây ăn quả, bao gồm: cây ăn quả ôn đới, á nhiệt đới và cây ăn quả nhiệt đới.

Trong đó, một số cây ăn quả chủ lực như: Chuối diện tích hơn 168.000ha, sản lượng hơn 3,2 triệu tấn; Sầu riêng diện tích 195.000ha, sản lượng hơn 1,8 triệu tấn; Xoài diện tích 115.742ha, sản lượng hơn 1,185 triệu tấn; Thanh long diện tích 51.421ha, sản lượnghown 1,215 triệu tấn; Dừa diện tích 206,272ha, sản lượng trên 2,376 triệu tấn; Bưởi diện tích 106,256ha, sản lượng trên 1,329 triệu tấn; Quả vải diện tích 56,653ha, sản lượng 406,923 tấn; Nhãn diện tích 81, 640ha, sản lượng 666,339 tấn; Cam diện tích 77,999ha, sản lượng trên 1,918 triệu tấn…

screen-shot-2026-09-04-at-105903-1788531478.png
Kim ngạch xuất khẩu ra quả của Việt Nam từ năm 2010-2025.

Năm 2023 kim ngạch xuất khẩu tăng đột biến, đạt 5,6 tỷ USD. Năm 2025 xuất khẩu đạt 8,56 tỷ USD tăng gần 20% so với 2024. Trong 7 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 4,78 tỷ USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhận định về xu hướng thị trường, ông Nguyễn Mười cho biết người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng, giá cả… mà chú trọng cả về tổng thể quy trình sản xuất, cách thức sản phẩm được tạo ra…từ đồng ruộng đến bàn ăn, bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn, thân thiện với môi trường.

Bên cạnh đó, theo ông Nguyễn Mười cần phát triển rau, quả gắn với du lịch nông nghiệp, tạo động lực thúc đẩy xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu, góp phần phát huy lợi thế, giá trị khác biệt của mỗi địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng, bền vững của du lịch nông nghiệp.

Tăng tỷ trọng chế biến sâu rau quả là "chìa khóa vàng" giúp tối ưu hóa giá trị gia tăng, giảm thất thoát sau thu hoạch và mở rộng dư địa xuất khẩu ổn định cho nông sản Việt Nam. Trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu rau quả liên tục đạt kỷ lục, việc chuyển dịch từ xuất khẩu thô sang các sản phẩm chế biến sâu (như sấy khô, cô đặc, đóng hộp, hoặc chiết xuất vi chất) mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn từ 40% đến 70% so với tiêu thụ dạng tươi truyền thống.

Liên kết chuỗi vẫn còn những điểm nghẽn

Bên cạnh kết quả đạt được, liên kết chuỗi vẫn còn những điểm nghẽn. Cụ thể, liên kết chưa thật sự bền vững khi một số chuỗi mới dừng ở hợp đồng tiêu thụ hoặc liên kết đầu vào – đầu ra, chưa hình thành được quan hệ hợp tác dài hạn giữa các chủ thể.

47adf9796d38ed66b429-1788491747.jpg
Doanh nghiệp tìm hiểu sản phẩm chanh dây ngọt của HTX Nông nghiệp G27 tại Lâm Đồng.

Quy mô và năng lực của nhiều HTX còn hạn chế, phần lớn HTX có vốn điều lệ thấp, cơ sở vật chất còn khó khăn… Năng lực quản trị và thị trường chưa đồng đều. Đặc biệt, khâu chế biến và bảo quản còn là điểm yếu, với tỷ lệ sản phẩm bán dưới dạng tươi, sơ chế còn cao, kho lạnh, logistics và xây dựng thương hiệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu mở rộng thị trường. Chuyển đổi số chưa đồng bộ, chưa xây dựng được hệ thống quản trị số…

Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân khiến nhiều HTX chưa thể mở rộng quy mô, đầu tư nhà sơ chế, kho bảo quản, dây chuyền chế biến và logistics là khả năng tiếp cận vốn, đất đai và hạ tầng sản xuất còn khó khăn.

Ngoài ra, theo Liên minh HTX Lâm Đồng, hạn chế lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở nguồn lực mà còn ở mức độ hoàn thiện thể chế, tổ chức sản xuất và năng lực của các chủ thể tham gia chuỗi giá trị, cần được tiếp tục hoàn thiện đồng bộ trong giai đoạn tới.

Doanh nghiệp, hợp tác xã cần giữ vai trò quan trọng trong chuỗi liên kết 

Xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, có liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến chế biến, phân phối và tiêu thụ, trong đó doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò quan trọng trong tổ chức chuỗi, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Theo đó, tỉnh phấn đấu ít nhất 50% HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả có liên kết ổn định với doanh nghiệp hoặc tham gia chuỗi giá trị; lựa chọn và xây dựng một số HTX kiểu mẫu, HTX đầu tàu, liên hiệp HTX theo ngành hàng để nhân rộng trong toàn tỉnh.

Phát triển hệ thống tiêu thụ ổn định thông qua doanh nghiệp chế biến, siêu thị, trung tâm phân phối, thương mại điện tử và xuất khẩu.

Tăng cường xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương…

Tổ chức lại sản xuất chuỗi, xây dựng thương hiệu nông sản Lâm Đồng

Theo Liên minh HTX Lâm Đồng, các doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng tiêu chuẩn nguyên liệu, hướng dẫn kỹ thuật đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Có thể xây dựng chuỗi theo mô hình: Nông hộ → Hợp tác xã/Tổ hợp tác → Doanh nghiệp đầu mối → Sơ chế/Chế biến → Phân phối/Siêuthị/Thương mại điện tử → Người tiêu dùng.

Trong đó, nâng cao vai trò của hợp tác xã, với việc hợp tác xã cần trở thành đầu mối tập hợp nông dân, thống nhất quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, thu gom và cung ứng sản phẩm với số lượng lớn, ổn định.

Có chương trình đào tạo giám đốc HTX theo từng ngành hàng, gắn đào tạo với giải quyết các bài toán thực tế của HTX.

Tăng cường thu thập và cung cấp thông tin về nhu cầu, giá cả, tiêu chuẩn kỹ thuật và xu hướng tiêu dùng để người dân và doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất.

Ưu tiên các sản phẩm có khả năng chế biến sâu, kéo dài thời gian bảo quản và tạo giá trị gia tăng cao.

Xây dựng cơ sở dữ liệu số về HTX, vùng nguyên liệu và chuỗi liên kết.Tăng cường quảng bá và bán hàng thông qua thương mại điện tử và các nền tảng số.

Liên minh HTX Lâm Đồng đề xuất, cần tập trung phát triển thương hiệu cho các ngành hàng chủ lực và sản phẩm OCOP; nâng cao chất lượng bao bì, nhãn mác, tiêu chuẩn sản phẩm và câu chuyện thương hiệu.

Khuyến khích doanh nghiệp xây dựng hợp đồng tiêu thụ dài hạn với các vùng nguyên liệu.

Gắn hiệu quả kinh tế với bảo vệ tài nguyên đất, nước và môi trường. Trong đó HTX cần trở thành hạt nhân tổ chức sản xuất theo hướng: xanh – hữu cơ – tuần hoàn – tiết kiệm tài nguyên – phát thải thấp – thích ứng biến đổi khí hậu.

để tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ liên kết chuỗi, Liên minh HTX kiến nghị UBND tỉnh Lâm Đồng ưu tiên đầu tư hạ tầng vùng sản xuất, logistics, kho lạnh, trung tâm sơ chế – chế biến; hỗ trợ chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu. Các sở, ngành cần thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành về hỗ trợ HTX.

Về phía Liên minh HTX Lâm Đồng sẽ phát huy vai trò là “cầu nối” và “bà đỡ” cho HTX; chuyển mạnh hoạt động từ tuyên truyền, vận động sang tư vấn quản trị, kết nối vốn, kết nối doanh nghiệp, thị trường và hỗ trợ xây dựng chuỗi; lựa chọn các HTX tiêu biểu để nhân rộng mô hình…

PV.